Tháng Mười Hai 1, 2022

Đàn ghita của Lor-ca – Phân tích tác phẩm mới nhất 2021

Đàn ghita của Lor-ca – Thể hiện nỗi đau và sự xúc động sâu sắc trước cái chết bi thảm của nghệ sĩ Lor-ca – một nghệ sĩ khao khát tự do, dân chủ, luôn mong muốn sự cách tân nghệ thuật và nghệ thuật đi tới không ngừng.
Bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca” trích trong tập “Khối vuông rubic” – là một trong số những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy của Thanh Thảo. Dưới đây tomtat.net đã tổng hợp một số bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca để giúp các bạn học sinh có thể tham khảo.

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Thanh Thảo

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 1

Đàn ghita của Lor-ca - Thanh Thảo
Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 1
Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng đã tạo được giọng điệu riêng ngay từ khi trình làng thi phẩm đầu tiên “Dấu chân qua trảng cỏ” rồi đến “Những người đi tới biển” sau đó là “Khối vuông ru-bích”. Ông luôn tìm tòi khám phá sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ. Đàn ghita của Lor-ca là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy sáng tạo ấy.
Thanh Thảo mở đầu bài thơ bằng chính di nguyện của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Đây là một di nguyện vừa thiêng liêng vừa cao thượng. Anh không muốn suốt đời là cái bóng ngăn cản sự phát triển của những tài năng trẻ của đất nước mình. Đây chính là cái tâm của người nghệ sĩ lớn suốt đời hi sinh cho nghệ thuật và đấu tranh chống phát xít bạo tàn. Về một ý nghĩa khác, đàn ghi ta đã gắn với giây phút cuối cùng của cuộc đời Lor-ca. Cái chết của người nghệ sĩ ấy và những phẩm chất tài năng của anh đã bắt gặp hồn thơ Thanh Thảo làm nên thi phẩm tuyệt bút này.
Bài thơ có lối diễn đạt không viết hoa đầu dòng tạo nên một sự liền mạch như một dòng chảy của cảm xúc không có điểm dừng. Sự tài hoa của Thanh Thảo còn làm ta liên tưởng bài thơ như một bản đàn ngân vang với âm thanh “li-la” mênh mang dìu dặt vút cao chắp cánh đưa người nghệ sĩ bay vút lên trên tất cả bạo tàn và chết chóc.

” những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chuếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn “

Những câu thơ mở đầu giàu sức gợi mang đến một trường liên tưởng về một đất nước đẹp tươi với tiếng ghita làm mê say lòng người những vũ nữ Digan với làn da rám nắng và vũ khúc Flamenco cháy bỏng những trận đấu bò rực lửa và danh dự của người kiếm sĩ và không thể thiếu những miền thảo nguyên bao la xanh bóng nắng. Giữa nắng và gió giữa bao la thiên địa Lor-ca hiện lên ngời sáng trong thơ.
Sự chuyển đổi cảm giác từ thính giác sang thị giác tạo nên “tiếng đàn bọt nước” đầy biến ảo khi tròn to khi phập phồng thổn thức khi vỡ ra tức tưởi như một “thiên bạc mệnh” có tính dự báo về những chông gai trắc trở mà số phận người nghệ sỹ sẽ phải đón nhận ở phía trước. Và màu “áo choàng đỏ gắt” tiếp theo sau tiếng đàn bọt nước ấy chính là những trận đấu bò sinh tử.
Nhưng đấu trường bò tót ngay trong sự chuyển gam của Thanh Thảo đã trở thành một đấu trường chính trị khổng lồ ngột ngạt căng thẳng đẫm máu của Tây Ban Nha thời đó. Màu áo của kiếm sĩ “đỏ gắt” lên hay nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân chủ và kiềm hãm sự phát triển của một nền nghệ thuật đang già cỗi.
Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát vọng dân chủ của nhân dân nói chung của Lor-ca nói riêng với nền chính trị độc tài. Xét trong lĩnh vực nghệ thuật đó là cuộc xung đột giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua. Xét ở phương diện nào thì Lorca cũng là một chiến sĩ đơn độc đáng thương.
Giữa lúc trận đấu đang căng thẳng thì bỗng vang lên âm thanh du dương bổng trầm của tiếng đàn: li-la li-la li-la một thanh âm trong trẻo thanh tao quyện hòa mùi hương hoa Lila dìu dịu lan tỏa với những cánh hoa màu tím nồng nàn đầy sức sống giữa khung cảnh bạo tàn và chết chóc. Đấu trường khốc liệt nhường chỗ cho sự thăng hoa của nghệ thuật. Ai nói nghệ thuật không có sức mạnh.
Không! Nghệ thuật chính là sức mạnh vô địch có thể hóa giải mọi hận thù. Và chàng nghệ sỹ của chúng ta đang thăng hoa trong bản hòa tấu ghi ta đầy lãng mạn. Người đọc như đang dõi mắt theo từng bước chân lãng tử của người nghệ sỹ trên hành trình “lang thang về miền đơn độc” cùng với “vầng trăng – yên ngựa”. Đây là một hệ thống thi ảnh thường bắt gặp trong thơ Lor-ca chàng kị sỹ một mình trên lưng «con ngựa đen/ vầng trăng đỏ” với những bản đàn ghita phiêu bồng cùng giấc mơ tranh đấu.
Trong thơ Thanh Thảo Lorca hiện lên với dáng điệu “chuếnh choáng”. Đây là một hình ảnh mang cái hồn say của người nghệ sỹ không phải cái say tầm thường của những cốc rượu vang đỏ mà là say trong tranh đấu say trong sáng tạo nghệ thuật. Nếu như chàng Đôn-ki-hô-tê trong trang văn của Xec-van-tec mải miết với giấc mơ hiệp sĩ thì Lor-ca mãi “mỏi mòn” trong hành trình chống lại tộc ác của bè lũ Phờ-răng-cô.
Nhưng đáng thương thay trong hành trình khát vọng ấy Lor-ca là một nghệ sĩ cô đơn trong sáng tạo nghệ thuật và cô độc trong chiến đấu. Nhưng không vì thế “con họa mi của xứ Granada lại ngừng hót”. Chàng vẫn “Mãnh liệt như trăm ngàn sư tử/ Vững chắc như cẩm thạch” (Thơ Lor-ca).
Càng chiến đấu Lor-ca càng say mê càng “hát nghêu ngao”. Nhưng phũ phàng thay “đường chỉ tay đã đứt” định mệnh đã khiến chàng nghệ sĩ du ca của chúng ta phải dở dang hành trình khát vọng. Phát súng của bọn phát xít đã đánh hạ Lorca đáng thương. Thanh Thảo thốt lên sững sờ «bỗng kinh hoàng”. Như không tin vào mắt mình nữa. Cả dân tộc Tây Ban Nha bàng hoàng cả thế giới nín lặng bản giao hưởng chùng xuống rồi lại vút cao lên theo “máu anh phun như lửa đạn cầu vồng”.
Thanh Thảo tạo dựng cái chết đầy bi phẫn của người anh hùng một cách tức tưởi bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập. Đối lập giữa niềm tin tình yêu và lạc quan khát vọng “hát nghêu ngao” với sự thật phũ phàng “áo choàng bê bết đỏ”. Đó là màu máu của Lor-ca làm tấm áo choàng đỏ gắt càng thêm “bê bết đỏ”. Đối với Lor-ca anh luôn dự cảm về cái chết nhưng anh cũng không thể ngờ rằng cái chết lại đến với mình nhanh đến thế.
Anh đã từng thốt lên “Tôi không muốn nhìn thấy máu !”. Nhưng máu đã đổ. Người kiếm sĩ muốn một cái chết vinh quang giữa đấu trường cùng với đôi kiếm sắc nhưng lại bị kẻ thù hành hình một cách lén lút bất minh. Nhưng Lor-ca chấp nhận như người cách mạng đã chấp nhận “Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Gươm kề cổ súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa”. Và vì chấp nhận người anh hùng đã ung dung bình thản ra giữa pháp trường “chàng đi như người mộng du”. Mộng du là trạng thái của tâm hồn đã rời thể xác nhưng không có nghĩa là biến mất khỏi thể xác.
Tâm hồn và tinh thần của Lor-ca đã gửi tất cả vào cuộc tranh đấu và vì thế bước chân mộng du đã hóa thành những bước chân anh hùng. Càng tiếc thương chàng nghệ sĩ bao nhiêu chúng ta lại càng căm phẫn tội ác bấy nhiêu. Và Lor-ca đã hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít. Bởi chúng chỉ có thể hủy diệt được thân xác của Lor-ca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh đang bung nở giữa bản hòa tấu trầm hùng mang âm hưởng của những tiếng ghi ta nồng nàn vi diệu:

 ” tiếng ghi-ta nâu

bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy “

Điệp khúc dồn dập qua nhịp thơ Thanh Thảo như đã lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghita bi tráng! Tôi gọi đây là khúc biến tấu của tiếng đàn nó thay màu chuyển gam rất lẹ biến ảo không ngừng và đặc biệt luôn sinh sôi nảy nở giọt này vỡ đi giọt kia lại trào ra không dứt. Đó chính là sức sống! Thanh Thảo sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác mang đến sự linh hoạt khi miêu tả tiếng đàn.
Màu nâu xuất hiện suy tư trầm tĩnh đến lạ thường. Đó là màu nâu của cây đàn màu nâu của đất đai màu nâu của làn da rám nắng trên thân hình những vũ nữ Digan bốc lửa. Trước giây phút từ li chàng đã ngước nhìn lên bầu trời xanh tha thiết “bầu trời cô gái ấy”. Đó là bầu trời của khát vọng bầu trời yêu thương nơi có bóng hình nàng Maria thủy chung. Đối lập với màu nâu trầm tĩnh là màu xanh của “tiếng ghita lá xanh biết mấy”.
Màu xanh là sự hóa thân của Lor-ca và tiếng đàn vào thiên nhiên mang sức sống cỏ cây: màu xanh của những vườn cam màu xanh của thảo nguyên và những rặng Oliu hay hàng bạch dương nơi Lor-ca đang yên nghỉ. Hai tiếng biết mấy nằm ở cuối câu vừa là sự tha thiết trong tình cảm của người nghệ sĩ Thanh Thảo vừa để tôn thêm vẻ đẹp của tuổi trẻ Lor-ca – vẻ đẹp của người chiến sĩ suốt đời hi sinh vì lí tưởng.
Tiếng đàn không chỉ mang sắc màu biến tấu mà còn mang hình khối đường nét như hình hài của sinh mệnh. Nó cũng tức tưởi vỡ òa cũng biết nói tiếng nói của sự căm phẫn bạo tàn. Hay nói đúng hơn đó là tiếng kêu cứu của nghệ thuật khi bị đẩy đến bờ vực của sự tuyệt diệt.

” tiếng ghi-ta tròn

bọt nước vỡ tan

tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy “

Hai tiếng vỡ tan vừa là sự vỡ ra của bọt nước vừa là sự phập phồng thổn thức của tiếng đàn. Nó đã cất lên lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủy diệt cái tài hủy diệt cái đẹp. Và vì thế bản ghita bi tráng đẩy đến độ cao trào của sự bi phẫn nó ròng ròng máu chảy nó uất nghẹn tức tưởi đến bật máu thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giao hưởng hào sảng. Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi khát vọng chưa thành.
Ta cũng đã từng bắt gặp nỗi đau của người nghệ sĩ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du “Một cung gió thảm mây sầu/ Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Nỗi đau của Kiều khi hầu đàn Hồ Tôn Hiến khiến cho dây đàn cũng nhỏ máu. Đó chính là sự đồng cảm giữa nghệ thuật và tâm hồn của người sinh ra nó. Thì ra nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinh mệnh. Với thủ pháp nghệ thuật so sánh và liên tưởng Thanh Thảo đã làm sống dậy một không gian sinh tồn đầy sức sống mãnh liệt.

” không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng “

Không ai chôn cất tiếng đàn hay không ai có thể chôn cất được tiếng đàn? Có lẽ nên hiểu theo cách thứ hai. Thứ nhất bởi nó là di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm của tinh thần được kết tinh từ hương sắc cuộc đời của người nghệ sĩ nhân dân. Thứ hai bởi sức sống mãnh liệt và hoang dại của nó như loài cỏ mọc hoang không gì có thể ngăn nổi chúng. Đây chính là sự bất tử sự vĩnh hằng của nghệ thuật.
Dù Lorca hi sinh nhưng sản phẩm tinh thần mà ông để lại đó chính là tâm hồn mình nghệ thuật của mình. Những bài ca tranh đấu của Lorca vẫn đồng hành cùng thời gian và đi cùng năm tháng thăng trầm của lịch sử và nó mãi mãi được hát vang trong lòng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.
Không chỉ bất tử tiếng đàn của chàng ca sĩ hát rong còn mang vẻ đẹp của giọt nước mắt vầng trăng. Một hình ảnh mang nhiều liên tưởng gợi nhiều thi vị. Phải chăng đó chính là vẻ đẹp của nghệ thuật được kết tinh từ những giọt mồ hôi từ máu và nước mắt của sự lao động nghệ thuật chân chính qua bao thời gian công sức đã nhào nặn thành viên ngọc lấp lánh mang hình hài của giọt nước mắt vầng trăng tinh khiết.
Hay đó chính là vẻ đẹp của cuộc đời Lor-ca đã hóa thân thành viên ngọc quý lung linh tỏa sáng giữa đời. Bất ngờ thay nơi đáy giếng tối tăm và lạnh lẽo nơi mà bọn phát xít ngỡ tưởng đã vùi lấp được linh hồn và thể xác của người công dân Lor-ca lại là nơi tỏa sáng tâm hồn anh. Ở khổ cuối của bài thơ Thanh Thảo đưa người đọc vào thế giới suy tư về sự giải thoát của Lor-ca:

” đường chỉ tay đã đứt

dòng sông rộng vô cùng

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghita màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái Digan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la “

Và cuối cùng chàng nghệ sĩ của chúng ta đã dừng bước giang hồ trước dòng sông của định mệnh khi đường chỉ tay đã đứt. Sinh mệnh chấm dứt. Chàng rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian để trở về cõi vĩnh hằng. Dòng sông vô hình dung là dòng sông cuộc đời dòng sông của số phận và cũng là đường ranh giới ngăn cách giữa sự sống và cõi chết. Trên dòng sông ấy Lor-ca đang bơi sang ngang cùng di vật đàn ghita. Màu bạc của cây đàn là sự biến ảo từ màu nâu trầm tĩnh sang xanh thiết tha hi vọng và cuối cùng là màu của sự hư ảo trong cõi siêu sinh.
Lor-ca đang bơi trên con thuyền thi ca mà cây đàn chính là con thuyền bàng bạc chở tình yêu và nỗi nhớ của chàng đang trôi dần vào bến bờ bất tử. Chàng dứt khoát rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian ném lá bùa vào xoáy nước ném trái tim vào cõi lặng yên. Xoáy nước là cuộc tranh đấu hay sự hiểm nguy trên dòng sông của định mệnh?
Cõi lặng yên phải chăng là phút giây mà trái tim người nghệ sĩ ngừng đập? Có lẽ ta không cần phải lí giải về nó. Bởi Lor-ca đã về nơi an nghỉ cuối cùng. Chỉ còn vang vọng nơi đây âm vọng của tiếng đàn li-la li-la li-la như bản nhạc thiết tha thấm đẫm hương thơm của loài hoa Lila đưa người nghệ sĩ – chiến sĩ về với cõi vĩnh hằng với bao niềm tiếc thương vô hạn. Tôi chợt nhớ tới bài thơ Ghi nhớ của anh:

” Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi

cùng với cây đàn dưới lớp cát hàng bạch dương

Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam

và đám bạc hà.

Khi nào tôi chết

hãy vùi thây tôi tôi xin các người đó

nơi một chiếc chong chóng gió. “

Có lẽ ở một nơi nào đó chàng nghệ sĩ nhân dân đang được sống giữa những sự yên vui và đầy ánh nắng của tự do nơi đó không có bạo tàn và chết chóc.
Bài thơ đã rất thành công khi tạo dựng một tượng đài Lorca bằng ngôn ngữ của thơ và âm nhạc. Với lối thơ không viết hoa đầu dòng cảm xúc liền mạch Thanh Thảo đã mang đến cho người đọc một mĩ cảm hiện đại giàu tính sáng tạo. Sự trộn lẫn giữa trường phái tượng trưng siêu thực và sức sáng tạo của Thanh Thảo đã cho ra đời một tuyệt bút đầy ngẫu hứng giàu chất nhạc.
Trên hết là nhà thơ đã mang đến cho người đọc một tình yêu vô bờ bến đối với nhà thơ nhân dân chống phát xít bạo tàn. Bất kỳ một cuộc chiến nào cũng có người chiến thắng và kẻ bại trận nhưng những người biết hi sinh vì mọi người luôn luôn là người anh hùng với chiến thắng vĩ đại nhất. Gacxia Lor-ca là một người như thế.

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 2

Đàn ghita của Lor-ca - Thanh Thảo
Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 2

Thanh Thảo là nhà thơ có tiếng nói riêng, phong cách nghệ thuật riêng thể hiện cái tôi cá nhân ấn tượng trong nền văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông đem đến cái nhìn mới mẻ cho thơ ca hiện đại. Bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca” trích “Khối vuông rubich” đã để lại sức chứa lớn trong lòng người đọc về hình tượng nhân vật Lor-ca – người nghệ sĩ vĩ đại của xứ sở Tây Ban Nha.
Lor-ca là cái tên quen thuộc đối với đất nước Tây Ban Nha, vì anh là biểu tượng của tự do, cho sự đấu tranh đòi hòa bình, đòi một cuộc sống bình yên cho nhân dân. Mặc dù bị sát hại nhưng Lor-ca mãi là biểu tượng mà nhân dân Tây Ban Nha tôn thờ.
Thanh Thảo đã mượn lời của người nghệ sĩ này làm lời đề từ cho bài thơ của mình có ẩn ý muốn gợi mở ra chiều dài thời gian và chiều sâu của không gian về người nghệ sĩ tài hoa này. Cả cuộc đời cống hiến, chiến đấu nhưng cuối cùng Lor-ca lại chết thảm dưới chế độ phát xít tàn bạo.
Với thể thơ tự do, không viết hoa đầu dòng, Thanh Thảo đã khiến người đọc tò mò về cách viết giàu sức gợi như thế này.

” Những tiếng đàn bọt nước

Táy Ban Nha áo choàng đỏ gắt

Li la li la li la li la

Đi lang thang về miền đơn độc

Với vầng trăng chuếnh choáng

Trên yên ngựa mỏi mòn “

Nhịp thơ nhẹ nhàng, dàn trải nhưng giàu sức gợi, sức tả khiến người đọc mường tượng đến đất nước xinh đẹp Tây Ban Nha với tiếng đàn ghi tar đắm say, những trận đấu bò tót hài hùng, những mảnh đất thảo nguyên mênh mông, lãng mạn. Tuy nhiên cụm từ “tiếng đàn bọt nước” dường như gợi lên sự mờ ảo, biến đổi khó lường, có thể vỡ tan ra bất cứ lúc nào không hay. Có một dự báo nào đó chẳng lành, đầy bất an ở dâu thơ này.
Tây Ban Nha là mảnh đất của những trận đấu bò tót độc đáo, đầy ấn tượng nhưng trong thơ Thanh Thảo, nó có còn giữ nguyên ý nghĩa đó nữa không. Chiến trường đấu bò tót có lẽ đã trở thành chiến trường chính trị ác liệt, nhiều đấu tranh, nhiều bon chen. Màu đỏ của áo choàng đã biến thành “đỏ gắt” phải chăng chính là chế độ độc quyền của chủ nghĩa phát xít đang hoành hành trên đất nước này. Hình ảnh Lor ca trở nên nhỏ nhoi, mệt mỏi trong cuộc chiến nhiều bấp bênh này. Tiếng đàn vẫn cứ cất lên “li la li la li la li la” và người nghệ sĩ đó “lang thang”, “chuếnh choáng”, “mỏi mòn” với những gì đang diễn ra. Cuộc chiến giữa nghệ sĩ chân chính với chế độ độc tài trở nên căng thẳng hơn. Người chiến sĩ đơn độc ấy trở nên lẻ loi, cô độc, không một ai có thể biên cạnh.

” Tây Ban Nha

Hát nghêu ngao

Bỗng kinh hoàng

Áo choàng bê bết đỏ

Lorca bị điệu về bãi bắn

Chàng đi như người mộng du “

Những hình ảnh thơ gây ấn tượng mạnh, cứa sâu vào lòng người sự chua xót trước hình ảnh người nghệ sĩ tài ba nhưng bất hạnh. Dân tộc Tây Ban Nha “kinh hoàng” sững sốt khi hình ảnh Lor-ca bị điệu về bãi bắn một cách trắng trợn, đầy man rợ như vậy. Sự thật phũ phàng do chế độ phát xít mang lại đã khiến cho mọi người thất bất an. Từ “bỗng” ở đầu khổ thơ thứ hai chính là sự ngạc nhiên trước hình ảnh bi thương của nghệ sĩ Lor-ca.
Mặc dù bị “điệu” về bãi bắn một cách đầy đau đớn như vậy nhưng Lorca vẫn giữ được sự bình thản, dám chấp nhận của bản thân bằng phong thái “chàng đi như người mộng du”. Đây là trạng thái tâm hồn không nhận thức được, tâm hồn và thể xác dường như tách lìa khỏi nhau. Đó là một phong thái rất đáng trân trọng, rất đáng nâng niu và ngưỡng mộ.
Ở những khổ thơ tiếp, nỗi tiếc thương cho cuộc đời nhiều chua xót ấy:

” Tiếng ghi ta nâu

Bầu trời cô gái ấy

Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

Tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy “

“Tiếng ghita” được lặp đi lặp lại như dồn nén cảm xúc trong lòng người, hay là tiếng căm phẫn đầy xót xa. Tiếng đàn ghi ta gắn liền với những thứ bình dị, với thiên nhiên ấm áp, với một cô gái, với bầu trời màu xanh tươi mới. Có lẽ đó là những thứ mà con người Tây Ban Nha muốn vươn tới, muốn giành dược. Nhưng tiếng ghi ta rơi “vỡ” thành “bọt nước” đã như khẳng định thêm hiện thực đau lòng ấy. Những đường khối, đường nét hiện rõ lên trang viết, cứa thêm vào lòng người cảm xúc nghẹn ngào, đau đớn. Một tiếng “Vỡ” cất lên đã tố cáo chế độ độc tài của phát xít, sự căm phẫn và muốn bóp nghẹt của những người đang chịu sự áp bức. Nỗi đau ấy tạo thành dòng máu chảy âm ỉ trong tim tê tái.
Thanh Thảo với sự tài hoa của mình đã làm sống dậy một không gian sống đầy bất tử:

” Không ai chôn cất tiếng đàn

Tiếng đàn như cỏ mọc hoang

Giọt nước mắt vầng trăng

Long lanh trong đáy giếng “

Người đọc nên hiểu ý nghĩa của câu thơ thứ nhất như thế nào, có lẽ không một ai có thể “chôn cất tiếng đàn” của Lorca được, bởi vì nó như “cỏ mọc hoang” tràn lan, khiến cho người ta mê mải và đắm say, không thể buông lơi ra được. Cái Lor-ca để lại cho người đời chính là âm nhạc, chính là sự cao quý của tâm hồn, của những hi sinh và cống hiến. Phép so sánh trong câu thơ đã khiến cho Lor-ca trở thành một biểu tượng vĩ đại nhất.
Tiếng đàn ghita của Lor-ca trở nên bất tử, một vẻ đẹp còn ý nghĩa cho đến những ngày sau. Ở khổ thơ cuối, xuất hiện thêm chiêm nghiệm, suy nghĩ của Thanh Thảo về nghệ thuật và cuộc đời cũng như sự giải thoát:

” Đường chỉ tay đã đứt

Dòng sông rộng vô cùng

Lor ca bơi sang ngang

Trên chiếc ghita màu bạc

Chàng ném lá bùa cô gái Digan

Vào xoáy nước

Chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt. “

Khi “đường chỉ tay đã hết” thì coi như sinh mệnh của mình đã chấm dứt. Lor-ca đã lường trước được cái chết, ý thức được những điều mà mình làm rũ bỏ hiện thực, rũ bỏ cuộc sống nhiều đau thương để rơi vào “lặng yên bất chợt”. Có lẽ đây chính là sự giải thoát mà Lorca đã chọn cho mình, cũng như sự giải thoát khỏi chế độ phát xít độc tài.
Như vậy “Đàn ghita của Lor-ca” thực sự là bài thơ giàu sức ám ảnh khi tái hiện lại cuộc đời bi tráng của người nghệ sĩ Tây Ban Nha dành cho nghệ thuật, cho cuộc đời, cho sự bình yên của đất nước.

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 3

Đàn ghita của Lor-ca - Thanh Thảo
Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 3

Khi tâm hồn nghệ sĩ đồng cảm với một tâm hồn nghệ sĩ thì khoảng cách và văn hóa sẽ không còn là dào cản. Nhà thơ Thanh Thảo đã dành một tình cảm, sự chân trọng như thế với người nghệ sĩ tài hoa Fê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lorca (1898 – 1936), một nghệ sĩ tài hoa của đất nước Tây Ban Nha.
Bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca” in trong tập “Khối vuông ru bích” (1985) chính là thể hiện điều đó. Bài thơ như gẩy lên tiếng đàn thánh thót tiễn đưa người nghệ sĩ đa tài nhưng không thoát khỏi sự éo le của số phận, cũng như thể hiện một cây bút xuất sắc trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam – tác giả đầy nhiệt huyết, phản ánh tiếng nói của người tri thức đầy suy tư, trăn trở trước các vấn đề nóng bỏng của xã hội và thời đại.
Nhà thơ muốn cuộc sống phải được cảm nhận và thể hiện ở chiều sâu bản chất của nó nên ông không chấp nhận lỗi biểu đạt ồn ào, dễ dãi. Bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca” đã thể hiện được đầy đủ phong cách nghệ thuật Thanh Thảo, cũng đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc.
“Đàn ghita của Lor-ca” ngay nhan đề thôi cũng đã gợi mở cho ta thấy được một bầu trời nghệ thuật mở ra. Đàn ghi ta cây đàn gắn với sự nghiệp của Lorca, gắn với những tác phẩm nổi tiếng của ông, hay đàn ghi ta chính là người bạn đồng hành đi cùng người nghệ sĩ du ca, đi khắp đất nước Tây Ban Nha mang lại những tác phẩm du dương làm phong phú thêm cuộc sống muôn màu.
Bài thơ chính là nói đến vẻ đẹp của nghệ thuật, vẻ đẹp của người nghệ sĩ đơn độc, vẻ đẹp của tiếng đàn thanh sắc, vẻ đẹp của cái chết cho tự do. Hình ảnh đất nước Tây Ban Nha một thời chống chế độ độc tài Phát xít Ph- răng – cô cũng hiện lên rõ nét như thế. Người nghệ sĩ tài hoa ra đi nhưng những gì Lorca để lại hoàn toàn là bất diệt.
Bài thơ cũng như nói lên nỗi lòng của nhà thơ Thanh Thảo, tiếng tương một nhân tài, nuối tiếc một tài năng thiên bẩm mà phải ra ở tuổi 38, từng câu thơ đều nói lên nỗi luyến thương như vậy. Câu thơ đề từ cũng lại một lần nữa đánh sâu vào tâm trí bạn đọc, hằn sâu đến nỗi ám ảnh, mang một ý nghĩa sâu xa: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”.
Đây chính là lời của Lorca trước khi phải rời đến thế giới bên kia. Nó như một lời báo hiệu có điều chẳng lành, đúng là như vậy, ông đã chết khi còn quá trẻ, khi tài năng đang nở rộ. Tâm nguyện này mang nhiều ý nghĩa, phải chăng Lorca muốn chôn vùi tài năng, chôn vùi những gì ông để lại xuống dưới nấm mồ kia để không ai còn biết đến, phải chăng ông đã nhận ra một điều nếu những thứ ấy còn tồn tại thì thế hệ tiếp sau sẽ khó có thể vượt qua tài năng của ông, sẽ là bước tường cản trở sự phát triển của thi ca nhân loại.
Hay chỉ đơn thuần là suy nghĩ được sống với nghệ thuật và khi chết đi cũng luôn được mang theo bên mình, thể hiện tình yêu bất diệt với tiếng đàn và chính quê hương, xử sở. Khổ thơ đầu của bài thơ vẽ nên hình tượng Lorca đẹp đẽ với khoảng trời nghệ thuật, nhưng bên cạnh đó cũng chính là bầu trời chính trị u ám dưới chế độ độc tài phát xít, cái đẹp bị vùi dập đến cô đơn.

“ Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

Lilalilalila

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn “

Tiếng đàn đã trở thành hình khối, nhà thơ Thanh Thảo thật sự đã đưa con người ta đến những tưởng tượng khó nói nên lời, âm thanh lại biết thành những khối vật lý hình tròn, hình tròn bọt nước. bọt nước ấy tinh khiết, thanh cao, đẹp đẽ. Hình ảnh ngay sau đó là “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt”, cả một nền văn hóa đã hiện ra chỉ một vài từ nhẹ nhàng đơn giản, Tây Ban Nha, xử sở đấu bò tót, với những kị sĩ mặc áo choàng đỏ, hình ảnh ấn tượng vô cùng.
Nhưng màu đỏ ấy lại là “đỏ gắt” như đã nói lên một sự chẳng lành, một đất nước đang sống trong những ngày tháng căng thẳng, sục sôi, bất mãn và đau khổ. Lilalialila… Chuỗi âm thanh của tiếng đàn ghi ta hiện lên như một lời giải cứu, nghệ thuật vẫn tồn tại, cái đẹp không thể bị chôn vùi. Lila cũng là tên một loài hoa rất đặc biệt ở đất nước Tây Ban Nha, hoa tử linh hương, tác giả như đã ngầm gửi đến ngàn đóa hoa tươi đẹp nhất dành cho Lorca.
“Đi lang thang về miền cô độc” Người nghệ sĩ du ca một mình một ngựa đi khắp đất nước thân yêu của mình, hát tặng nhân dân của mình những bản tình ca sâu đậm. Tác giả khéo léo sự dụng hai từ láy đặc biệt tạo hình “chếnh choảng”, “mỏi mòn” đã làm cho người đọc như nhìn thấy bức tranh tuyệt đẹp có thiên nhiên, hoa cỏ, nhưng sao buồn quá, con người trong tranh ấy hoàn toàn cô đơn, một mình mang nghệ thuật đến một chân trời xa xa.
Hai khổ thơ nói về cái chết của Lorca, thực sự đến quá nhanh, nhanh đến kinh hoàng. Hai câu khổ thơ như nói lên nỗi lòng của tác giả, ông xót thương cho một người nghệ sĩ phải hi sinh bằng ngòi bút như rướm máu, ông đã thể hiện điều đó bằng ngôn ngữ của trái tim.
Thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong đoạn thơ này là cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa, ẩn dụ, tượng trưng đa nghĩa và đối lập được tác giả khai thác triệt để nhằm thể hiện bi kịch của Lorca. Đoạn thơ đã làm nổi bật sự đối lập giữa khát vọng tự do của người nghệ sĩ với bạo lực tàn ác của bọn phát xít, giữa tiếng hát yêu đời với hiện thực phũ phàng đẫm máu.
Hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ” như vừa nói lên cái chết đầy oan ức của Lorca cũng như tố cáo chế độ độc tài phát xít Ph-răng cô tước đi mang sống của một người nghệ sĩ tài hoa. Hình ảnh ấy nói lên sự khát khao cuộc sống tự do, bình yên, một sự đấu tranh khốc liệt cho cái đẹp mà người tài hoa yêu quý.
Trạng thái của Lorca đã như người mộng du, trạng thái ấy trước khi đối diện với cái chết đó không phải là sự sợ hãi mà đó là nỗi tiếc thương. Sự kiện thảm khốc ấy tạo ra những cú sốc cho chính Lorca, cho người dân Tây Ban Nha hay chính đối với tác giả. Nhà thơ đã diễn tả theo lối ẩn dụ tượng trưng với sự chuyển đổi cảm giác liên tục khá mới mẻ, táo bạo, qua những âm thanh vỡ ra thành màu sắc, hình khối, thành dòng máu chảy, góp phần làm nên tiếng đàn ghi ta ở những cung bậc cảm xúc khác nhau.
Sự so sánh tài tình của tác giả khi nói về tiếng đàn ghi ta thực sự đều để lại ẩn tượng cho những ai đọc tác phẩm này. Tiếng ghi ta nâu làm hiện ra một bầu trời tương đẹp, tiếng ghita như màu lá xanh tươi mới, tiếng ghi ta lại thành hình khối như bọt nước tròn vo, hình ảnh rất đẹp nhưng lại diễn ta một cái chết bi thương “tiếng ghita ròng ròng – máu chảy”.
Tiếng ghita đã được nhân hóa thành con người, thành số phận, tiếng ghi ta ấy chính là linh hồn của Lorca. Một hình ảnh gây ám ảnh, day dứt đối với tâm hồn người đọc. Người nghệ sĩ ra đi, nhưng để lại một kho tàng nghệ thuật phong phú, những tác phẩm của ông sẽ còn sống mãi. Đó là một niềm tin về sự bất diệt của nghệ thuật, của cái đẹp, sự khát khao tự do, công bằng, công lý. Khổ thơ cuối bài thể hiện sự tiếc thương vô hạn của nhà thơ Thanh Thảo đối với Lorca là cơ sở vững chắc cho niềm tin mãnh liệt ấy.

” không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn
như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lorca bơi sang ngang
trên chiếc ghi tar màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la… “

Không ai chôn cất tiếng đàn, câu thơ này thể hiện hai ý nghĩa, thứ nhất có thể thấy rằng không ai dám chôn cất tiếng đàn, tại sao vậy? Ý nguyện của Lorca là “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” vì sao không ai làm điều đó. Vì không ai muốn chôn vùi, không ai muốn phải chôn vùi đi một nghệ thuật đỉnh cao. Ý nghĩa thứ hai đó là không thể chôn vùi nổi một cái đẹp đã đến độ hoàn hảo, dù Lorca có chết những nghệ thuật của ông còn mãi, thế hệ mai sau sẽ noi theo mà sáng tạo mà cố gắng.
“Giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh nơi đáy giếng” đây là một hình ảnh ấn dụ xâu sắc, sau khi Lorca chết, ông đã bị bọn phát xít ném xác xuống giếng. Một loạt hình ảnh ẩn dụ hiện lên sâu đậm “đường chỉ tay đã đứt” hình ảnh ẩn dụ cho số phận ngắn ngủ, người nghệ sĩ tài hoa phải hi sinh khi tuổi còn quá trẻ.
“Lorca bơi sang ngang/trên chiếc ghi ta màu bạc” hình ảnh ấy như cho ta cảm giác Lorca khi về đến thế giới bên kia cũng được nâng đỡ bởi nghệ thuật, bởi tiếng đàn. Chiếc ghi ta màu bạc, thể hiện sự trang nghiêm, thanh thoát, trở thành con thuyền đưa ông nhẹ nhàng về thế giới bên kia. Hai khổ thơ này tác giả như sử dụng triệt để lối thơ tượng trưng đầy ám ảnh.

“ chàng ném lá bùa cô gái Digan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt ”

Hình ảnh ấy phải chăng là sự giải thoát, Lorca đã đi về với về giới bên kia, để cho xoáy nước cuốn đi những oan ức, những khát khao, không còn vướng bận đến cõi trần. Trái tim ấy đã ngừng đập, một lặng yên bất chợt đến bàng hoàng, hụt hẫng. Âm điệu như lắng xuống, đầy xót xa, nhà thơ Thanh Thảo đã thể hiện sâu sắc tình cảm của mình đối với Lorca trong những câu thơ cuối bài này.
Người nghệ sĩ đã chết những tiếng đàn vẫn còn đó “Lilalilalila…” một khúc ngân của bản nhạc khó dứt, một đóa hoa Tử linh hương Thanh Thảo muốn đặt lên mộ viếng người thi sĩ, một sự đồng cảm dâng trào. Có thể thấy nghệ thuật không phân biệt biên giời, người nghệ sĩ phương Đông tiếc thương một nhân tài phương Tây bằng tất cả sự chân thành, và sự trân trọng cái đẹp. Lilalilalila….
Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ lấy nguồn cảm hứng từ tiếng đàn. Tác giả đã rất khéo léo dùng những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng độc đáo gây ấn tượng mạnh đối với bạn đọc. Thể thơ tự do, khá thoải mái để bộc lộ cảm xúc. Hơn thế nữa điểm đặc biệt của bài thơ chính là không hề có dấu chấm câu khi kết thúc câu, hay đoạn. Đó cũng chính là dụng ý của tác giả, làm cho mạch thơ không dứt, làm cho tình cảm được trải dài trong cả bài thơ. Thực sự phong cách thơ Thanh Thảo rất độc đáo, không trộn lẫn, đặc trưng cho người tri thức luôn mê mải đi tìm vẻ đẹp hoàn hảo, thanh cao.
Qua bài thơ “Đàn ghita của Lor-ca” Cho ta thấy Nhà thơ Thanh Thảo đã viết về Lorca bằng rung động mãnh liệt của cảm xúc, bằng tấm lòng “liên tài” rất đáng trân trọng. Những sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ chứng tỏ tâm huyết và khát vọng đổi mới thơ ca của tác giả, góp phần làm cho khả năng thể hiện của ngôn ngữ tiếng Việt thêm tinh tế, phong phú và đa dạng. Bài thơ đã để lại những ấn tượng khó phải đối với những ai đã từng đọc, có thể thấy rằng nghệ thuật sẽ mãi mãi sống cùng nhân loại.

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 4

 

Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 4

Được chú ý trên thi đàn từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, thơ Thanh Thảo chứa đựng nhiêu suy tư nghiêm túc về thế hệ mình, về quyền tự vệ chính đáng của dân tộc. Cái tôi công dân nhiệt huyết tự biểu lộ qua những câu hỏi mang chiều sâu nhận thức đã tránh cho thơ ông sự ồn ào dễ dãi.
Từ khi đất nước hoà bình rồi đổi mới, Thanh Thảo vẫn giữ nguyên được niềm say mê với thơ và vẫn là tác giả được bạn đọc chờ đợi. Có thể nhận ra hai đối tượng thấm mĩ mà ông tha thiết nhất: đó là những tâm hồn phóng khoáng, yêu tự do, thanh cao, bất khuất và những cái đẹp lặng thầm bé nhỏ mà xiết bao kì diệu – cái đẹp giản dị như Tự nhiên, vô tư như Tự nhiên: “những giọt sương lặn vào cỏ – qua nắng gắt, qua bão tố – vẫn giữ lại cái mát lành đầy sức mạnh – vẫn long lanh bình thản trước vầng dương” (Bùng nổ của mùa xuân).
Nhưng Thanh Thảo còn tha thiết hơn với việc kiếm tìm những khả năng biểu đạt mới mẻ, hiệu quả hơn cho thơ. Trong xu hướng vận động tích cực, mạnh mẽ của cả nền văn học Việt Nam từ sau năm 1975, Thanh Thảo thuộc số những người có nhiều nỗ lực thể nghiệm cách tân thơ táo bạo, đầy tâm huyết. Năm 1985, ông cho xuất bản tập “Khối vuông ru bích” và nhận được sự quan tâm rộng rãi của công chúng.
Tên tập thơ không chỉ thể hiện một quan niệm về tính đa chiều của cuộc sống mà còn là cách hình dung của tác giả về cấu trúc thơ: một mô hình mở, khước từ mọi khuôn mẫu ổn định, quen thuộc để giải phóng cảm xúc và tưởng tượng (trong trò chơi ru bích, người chơi tự do xoay chuyển các ô màu để thử nghiệm những phương án mà mình chọn, cuối cùng tìm ra được cơ chế vận hành thống nhất của chúng).
Đàn ghita của Lor-ca là một thi phẩm thành công, kết tinh nhiều nỗ lực tìm tòi sáng tạo của thơ Thanh Thảo theo hướng hiện đại hoá. Bài thơ mượn cây, đàn, đúng hơn, tiếng đàn, để diễn tả nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của người nghệ sĩ Tây Ban Nha tài hoa đã khiến ông ngưỡng mộ và xúc động sâu sắc. Lor-ca được tôn vinh là “con hoạ mi” của thơ ca Tây Ban Nha thế kỉ XX.
Thơ ông rất giàu chất nhạc dân gian vùng An-đa-lu-xi-a và chắc chắn tình yêu âm nhạc đã xui khiến thi nhân làm người du ca tự nguyện đổ hát lên cùng cây đàn những vẻ đẹp thơ của cuộc đời. Thanh Thảo đã cố gắng khắc hoạ hình tượng Lor-ca thi sĩ – ca sĩ trong một bài thơ vừa dồi dào nhạc tính, vừa có dáng dấp một ca khúc, không chỉ có hình ảnh cây đàn mà còn cả những lời thơ mô phỏng cách đệm đàn, hình ảnh, và âm thanh tiếng đàn ghi ta (tiếng đàn bọt nước, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh, li-la li-la li-la).
Việc khai thác các đặc tính của những loại hình nghệ thuật khác để làm giàu thêm khả năng thơ đã được biết đến từ lâu nhưng khi điều này trở thành ý thức tự giác về bút pháp thì nhất định nó phải được dẫn đường bởi một quan niệm sáng tạo mới mẻ: hình thức phải mang tính nội dung, hình thức phải là một nội dung của sự sáng tạo.
Ngoài dáng dấp ca khúc và ít nhiều cả lối diễn tấu ghi ta, nhà thơ Việt Nam còn đưa vào nhiều chi tiết, hình ảnh, ý thơ của chính Lor-ca để mở ra một trường nghĩa “liên văn bản” rộng rãi (ví dụ những câu trong bài Ghi nhớ: “Khi nào tôi chết – hãy vùi xác tôi cùng cây đàn – dưới lớp cát”, hình ảnh “trái chanh vàng nho nhỏ” và lời để nghị “Hãy ném trái chanh nho nhỏ ấy – vào gió” trong bài Than thở về cái chết). Với Đàn ghita của Lor-ca, Thanh Thảo đã tạo ra hình thức “lai ghép” thơ – nhạc thật độc đáo.
Sự đồng cảm sâu sắc giữa người làm thơ và đối tượng cảm xúc thể hiện đầu tiên ở khả năng hoà nhập. Chỉ qua mấy nét chấm phá ban đầu, bài thơ ngay lập tức gợi được hình tượng Lor-ca trên cái “nền” đặc trưng của văn hoá Tây Ban Nha:

” những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn “

Trật tự từ và hình ảnh không kết hợp theo nguyên tắc tả thực rành rõ của lô gích lí tính thông thường mà như ngẫu hứng, như phi lí. Tính bất thường này có thể đưa đến nhiều cách “diễn dịch” khác nhau nhưng chắc chắn sẽ có một ấn tượng chung về hình tượng người nghệ sĩ cô đơn mà kiêu hãnh trên con đường thăm thẳm của tự do và cái đẹp. Hành trình ấy đối lập với bạo lực và xiềng xích cũng như “tiếng đàn bọt nước” (tượng trưng cho cái bé nhỏ / phù du hay giản dị mát lành) đối lập với “áo choàng đỏ gắt” (tượng trưng cho tai họa / chết chóc). Trong tương quan đối lập này, số phận người nghệ sĩ thật mong manh:

” Tây Ban Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lor-ca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du “

Giây phút bi phẫn nhất trong cuộc đời Lor-ca được tái hiên thật ngắn gọn và đặc sắc: tiếng hát “nghêu ngao” – tiếng hát vô tư, vô hại lại đưa đến hậu quả tàn khốc: “áo choàng bê bết đỏ”. Sự bất công này, tội ác nàỵ nằm ngoài cái đẹp, không bao giờ thuộc về cái đẹp nên làm sao Lor-ca hiểu? Phản ứng của chàng (“kinh hoàng”, “đi như người mộng du”) là nỗi xót xa ngàn đời trước tình thế không thể tự vệ của những nghệ sĩ như chàng khi “bị điệu về bãi bắn”. Nhịp điệu đứt gãy của những câu thơ này làm bùng nổ cảm xúc ở người đọc, nó nén một tiếng kêu bi phẫn không sao cất thành lời chính vì cái vẻ “mộng du” kia.
Vẫn lối kết hợp từ phóng túng mà cô đúc, Thanh Thảo dành cho độc giả một biên độ thênh thang của liên tưởng, tưởng tượng: Tây Ban Nha (không có định ngữ “áo choàng đỏ gắt”) có cùng ý nghĩa với “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” ở trên hay là một Tây Ban Nha thân yêu mà Lor-ca cất lời ca ngợi? Chiếc “áo choàng bê bết đỏ” là nỗi “kinh hoàng” của Lor-ca hay của cả dân tộc chàng đang chìm trong cuộc nội chiến đẫm máu?
Thanh Thảo đã từng viết: “Lor-ca là nhà thơ của những giấc mơ, của những linh cảm nhoi nhói, một nhà thơ có thể biến những giấc mơ thành nhịp điệu, có thể biến những linh cảm thành ngôn từ. Lor-ca siêu thực một cách tự nhiên, và hiện thực một cách tự nhiên”. Với Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo đã nỗ lực làm cuộc kiếm tìm nhịp điệu quyến rũ của những giấc mơ, những xúc cảm hân hoan và đau đớn, buồn phiền và dịu dàng mà chàng thi sĩ Tây Ban Nha kí thác vào những bài ca sâu thẳm “thật sâu, sâu hơn nhiều so với tất cả các giếng sâu và mọi vùng biển bao quanh thế giới, sâu hơn nhiều so với con tim hiện tại tạo ra nó và so với tiếng hát nó hát lên, là vì nó hầu như vô tận (Lor-ca).
Tâm hồn Lor-ca xao động đầy tràn mộng mị và linh cảm. Nhưng làm thế nào để diễn giải nó? Chắc chắn, cũng chỉ có thể tìm đến thứ ngôn từ mộng mị, đầy tràn linh cảm như thế, như bài thơ của Thanh Thảo.
Đàn ghi ta, với Lor-ca, có lẽ không chỉ là một nhạc cụ thân thiết, là tình yêu thi sĩ dành cho âm nhạc, mà còn là định mệnh: “khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn”. Hơn cả định mệnh, nhà thơ Việt Nam Thanh Thảo cảm nhận nó là tâm hồn, là linh hồn của thi sĩ Lor-ca. Nó chính là sự bất diệt (“những tiếng đàn bọt nước”, “đi lang thang về miền đơn độc”).
Miêu tả âm thanh, ở dạng đơn giản, là sự mô phỏng. Ở một mức cao hơn, là sự mô phỏng bằng hình dung về những tính chất. Ví dụ: “Trong như tiếng hạc bay qua – Đục như tiếng suối mới sa nứa vời” (Truyện Kiều), những hình dung dù rất đẹp, vẫn nhằm “minh họa”, “mô phỏng” cho cái “trong” “đục” của âm thanh. Nhưng cẩm nhận của Thanh Thảo đã nghiêng về cảm nhận của giấc mơ, không cần một sự tương đương trong hiện thực, nó đầy dư ba và sức gợi liên tưởng:

” những tiếng đàn bọt nước

 tiếng ghi ta nâu bầu trời cô gái ấy

tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi ta ròng ròng

máu chảy “

Những điệp khúc tạo hình âm nhạc bằng chính nhịp điệu, và bằng hình ảnh (bọt nước, tròn bọt nước vỡ tan, ròng ròng, máu chảy) bằng màu sắc (nâu, xanh biết mấy), bằng liên tưởng (Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt, bầu trời cô gái ấy,…). Sự kết hợp ngẫu hứng các từ ngữ thường thấy trong lối thơ tượng trưng cũng là sự kết hợp của kiểu tư duy âm nhạc.
Đặc biệt, với “tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy”, âm nhạc đã thành thân phận. Nó là tiếng van vỉ than khóc của “trái tim tử thương” trong thơ Lor-ca, nó chính là định mệnh nghiệt ngã của người nghệ sĩ yêu tự do và cái đẹp – người chiến sĩ kiên cường đã chết dưới tay phát xít. Thanh Thảo đã tượng trưng hoá âm thanh: không ai chôn cất tiếng đàn.
Tiếng đàn trở thành linh hồn, hơn thế, thành cả thân thể, thành một sinh thể, một thân phận… (Câu thơ làm ta liên tưởng đến câu thơ Nguyễn Du thác lời Thuý Kiều nói về lẽ tử sinh: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”). Bọn phát xít có thể giết Lor-ca nhưng làm sao giết được tiếng thơ, tiếng đàn người nghệ sĩ ấy để lại trong lòng dân chúng? “Không ai chôn cất tiếng đàn” vì đó là điều không thể.
Kẻ thù muốn xoá tên tuổi Lor-ca như đã hèn hạ vùi xác ông trong một nấm mồ vô danh nào đó nhưng chúng làm sao chôn được tiếng đàn mãi còn “thở than”, “ai oán”, “van vỉ” và “khóc” cùng con tim những người dân Tây Ban Nha bị tước đoạt tự do, bị đẩy vào loạn li binh lửa! Sau khi Lor-ca bị thủ tiêu, có nguồn tin nói rằng bọn phát xít đã bí mật quăng xác ông xuống giếng. Câu thơ này ít nhiều gợi lại chi tiết đó.
Điều quan trọng mà Thanh Thảo khẳng định ở đây chính là chân lí về sự bất tử: có thể giết chết con người nhưng không thể tiêu diệt được khát vọng sống của con người. Khát vọng ấy Lor-ca đã “phổ” vào tiếng đàn và giờ đây nó vẫn đang lên tiếng, đang sinh sôi mãnh liệt bằng sức sống tự nhiên không gì chặn nổi: “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”. Có bao nhiêu lần Thanh Thảo đã dùng “cỏ” tượng trưng cho sự bất khuất, cho sức sống trường tồn (Dấu chân qua trảng cỏ, cỏ vẫn mọc,…).
“Cỏ hoang” là thứ vô danh, chẳng chút cao sang quý phái nhưng khả năng sinh tồn thì thật phi thường. So sánh tiếng đàn Lor-ca với “cỏ mọc hoang” là một so sánh lạ nhưng hợp lí, nhất quán trong bút pháp tạo hình tượng trưng hoá của bài thơ.
Hình ảnh “giọt nước mắt vầng trăng – long lanh trong đáy giếng” tuy có thấp thoáng gợi lại cái chết oan khuất của Lor-ca nhưng ấn tượng nổi bật vẫn là một vẻ đẹp cao khiết, rạng ngời. Phép tỉnh lược (bỏ bớt từ) làm cho mối liên kết giữa các hình ảnh trở nên linh động, biến ảo và trường liên tưởng của người đọc được kích thích mạnh. “Giọt nước mắt” của ai?
Lor-ca? Nhân dân Tây Ban Nha? Hay Thanh Thảo? “Giọt nước mắt” như “vầng trăng” hay “giọt nước mắt” là “vầng trăng”? Hay cả hai? Lô gích ngữ pháp có vẻ bị phá vỡ nhưng ấn tượng về nỗi đau và vẻ đẹp mà hình ảnh thơ chuyển tải thì rất tự nhiên, sâu sắc. Thêm nữa, hoàn toàn có thể coi hình ảnh “giọt nước mắt vầng ưãng” như một ẩn dụ tượng trưng rất giàu sức gợi cảm của huyền thoại: giọt nước mắt hoá ra vầng trăng, giọt nước mắt là cái đẹp thiên nhiên vĩnh cửu, là tình yêu,…
Nhiều bạn đọc Việt Nam hẳn sẽ nhớ lại những giọt nước mắt có khả năng giải oan, tái sinh tình yêu và cái đẹp như vậy (chẳng hạn: Giọt nước mắt trong các truyền thuyết Trương Chi, Mị Châu – Trọng Thuỷ). Từ kí ức văn hoá và từ cuộc đời Lor-ca, Thanh Thảo tạo dựng một huyền thoại khác:

” Lor-ca bơi sang ngang

trên chiếc ghi ta màu bạc. “

“Đường chỉ tay đã đứt”, định mệnh nghiệt ngã đã cắt ngang sự sống của Lor-ca, chàng trở về với tự nhiên, về với thế giới vĩnh hằng trong dáng vẻ nghệ sĩ của mình. Trong thế giới siêu thoát ấy, cây ghi ta của chàng thành con thuyền đẹp và huyền bí. Nó phải là “chiếc ghi ta màu bạc”. Người Việt chúng ta hay nói đến sự tẩy rửa, và “nước” hoặc “sông” gắn với sự tẩy rửa này bởi qua cái chết, Lor-ca tìm một sự bình yên. Nhưng phía sau chàng là những gì chàng đã thương yêu, khao khát. Giã từ thế nào đây’?

” chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…”

Giây phút cuối cùng thi sĩ chỉ hiện diện duy nhất bằng trái tim – cũng là lá bùa, là định mệnh – đã trở thành chàng Đan-kô, để âm thanh vang nhịp đập con tim mãi đầy hương thơm với điệp khúc “li – la li – la…” (li la còn là tên một loài hoa xứ Tây Ban Nha). Giấc mơ “tiếng đàn bọt nước”, giấc mơ âm thanh “li – la li – la li – la” vừa ngân vang nhạc vừa đọng hương siêu thực.
Bài thơ còn vẽ lên hình ảnh một hành trình nghệ sĩ: “đi lang thang vể miền đơn độc – với vầng trăng chếnh choáng – trên yên ngựa mỏi mòn”; người thi sĩ – chiến sĩ hát nghêu ngao “bị điêu về bãi bắn”, “đi như người mộng du”, nhưng linh hồn chàng – tiếng ghi ta ấy – thì hoá màu sắc, thanh âm, máu chảy,…Theo bước chân lãng tử, theo câu thơ lãng tử, người đọc chứng kiến một sự sống Lor-ca, cái chết Lor-ca và sự bất diệt Lor-ca. Đó là huyền thoại về một con người, một nghệ sĩ, một chiến sĩ, về một xứ sở và về chính nghệ thuât, âm nhạc, thi ca,…
Bài thơ đem đến một âm hưởng lạ bởi cấu trúc trùng điệp, gợi cảm và một không gian lạ. Không gian lạ được tạo dựng không phải chỉ là hình ảnh Lor-ca với Tây Ban Nha, nơi màu áo choàng đỏ gắt của các võ sĩ đấu bò tót đã là nét văn hoá không thể thiếu, mà còn là những liên tưởng thơ mang tính siêu thực: “những tiếng đàn bọt nước”, “vầng trăng chếnh choáng”, “tiếng ghi ta nâu”, “tiếng ghi ta xanh biết mấy”, “bầu trời cô gái” Di-gan, “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”,…
Thanh Thảo chưa đi đến sự phi lí huyền hoặc, bài thơ vẫn còn những câu thơ nhiều lí tính: ” tiếng đàn như cỏ mọc hoang”. Câu thơ này làm nhớ một câu thơ của Chế Lan Viên: ” cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên”. Cũng chạm đến cái hoang đường, nhưng cái hoang đường, mộng mị ở Thanh Thảo còn bị níu giữ bởi ngôn từ tuyến tính khi thêm một từ “như” chặn ngang sự tự do và làm giới hạn liên tưởng thơ.
Dù vậy, về cơ bản trong toàn bộ bài thơ, ngôn ngữ đã nhập vào những giấc mơ, những cơn mộng, nhập vào âm nhạc,… Giữa nhiều bài thơ “tỉnh rụi, tỉnh khô, tỉnh như sáo…” của tập Khối vuông ru bích, Đàn ghita của Lor-ca là một khúc nhạc đẫm chất trữ tình, chếnh choáng ánh sáng, hương thơm. Cảm giác “tan chảy” trong sự sống tưởng tượng, có lẽ là cảm giác đẹp nhất khi đọc thi phẩm này. Nó cũng là cảm giác mà nhiều bài thơ của Lor-ca đem lại, dù chỉ là qua bản dịch.

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 5

Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 5

Tâm hồn người nghệ sĩ vốn tài hoa và đầy lòng trắc ẩn, cho dù xa về khoảng cách địa lí, rào cản văn hoá thì họ vẫn tìm thấy sự đồng cảm trong nhau. Trước cái chết bi thương gây chấn động cả lịch sử nhân loại của Lor-ca, Thanh Thảo đã viết Đàn ghita của Lor-ca – bài thơ như tiếng nhạc gẩy lên du dương, tha thiết tiễn đưa người nghệ sĩ đa tài về chốn cực lạc, thoát khỏi éo le số phận, rời xa xã hội bất công độc tài lúc bấy giờ ở Tây Ban Nha.
Vẫn là ngòi bút xuất sắc đầy nhiệt huyết ấy, lòng trăn trở trước những vấn đề nóng bỏng của xã hội và thời đại, Thanh Thảo đã cho người đọc cảm nhận được sự xót thương, sự căm phẫn tột cùng với chế độ xã hội đầy bất công đẩy con người vào chỗi bi kịch không lối thoát.
Thanh Thảo tên thật là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, là người con của quê hương Quảng Ngãi đầy nắng và gió. Ông là nhà thơ thuộc thế hệ các nhà thơ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Ông có rất nhiều bài thơ hay được công chúng biết đến rộng rãi Những người đi tới biển, Khối vuông ru-bích, Những ngọn sóng mặt trời. Ông là nhà thơ có tiếng nói riêng luôn tìm tòi những điểm mới khác biệt, nỗ lực cách tân thơ việt, ông chối bỏ những lối thơ văn dễ dãi, lạc hậu, cũ kỹ.
Tuy nhiên, trong tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca còn mang màu sắc khá trừu tượng, có nhiều những hình ảnh siêu thực gây khó hiểu cho độc giả, nhưng không thể phủ nhận giá trị to lớn của nó và nỗ lực không ngừng nghỉ cách tân thơ việt của Thanh Thảo.
Bài thơ được viết dựa trên cái chết bi thương của Lor-ca (1898-1936), một người nghệ sĩ đa tài, một trong những ngôi sao sáng chói trên bầu trời nghệ thuật của Tây Ban Nha lúc bấy giờ. Dù tuổi còn trẻ, nhưng ông đã sớm nhận ra tội ác, sự tàn độc của bè lũ phát xít, của chế độ độc tài đã đẩy người dân Tây Ban Nha vào cảnh lầm than, thiếu thốn, tước đi quyền được tự do, hạnh phúc, đẩy đất nước rơi vào bầu trời chính trị u ám, không lối thoát.
Trước lẽ đó, Lor-ca đã dùng tài năng thiên bẩm của mình cất lên tiếng hát, tiếng đàn, lời thơ ca ngợi sự tự do, phản đối chế độ phản động, đòi công bằng cho nhân dân. Tiếc thay, ở cái tuổi 38 ôm bao hoài bão khát khao to lớn chưa hoàn thành thì ông bị sát hại, cái chết đã gây cơn chấn động, gieo nỗi bàng hoàng không chỉ ở Tây Ban Nha mà còn trên toàn thế giới.
Thanh Thảo viết nên bài thơ như lời chào vĩnh biệt, dựng lên một tượng đài về người anh hùng bất diệt, hiên ngang, sừng sững trước kẻ thù. Mở đầu là lời đề tự “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” – một câu thơ rất nổi tiếng của Lor-ca, không là gì khác ông chỉ cần cây đàn, ngay cả khi đã lìa trần, có thể thấy cây đàn có ý nghĩ to lớn như thế nào đối với người nghệ sĩ, ông coi nó như một người bạn đồng hành chứa đựng bao nỗi niềm tâm tư mình. Hiểu được lẽ đó, Thanh Thảo đã trân trọng đặt câu thơ ấy mở đầu khiến cho người đọc thêm phần thương tiếc, đồng cảm cho số phận nghiệt ngã cho người anh hùng bạc mệnh.
Mở đầu bài thơ là tiếng đàn ồn ã, vui tươi, rạo rực biểu trưng cho tâm hồn phóng khoáng yêu đời của Lorca. Đây cũng là hình ảnh tượng trưng cho đất nước , truyền thống dân tộc Tây Ban Nha, là hình tượng trung tâm xuyên suốt của toàn tác phẩm:

“ những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la

đi lang thang về miền đơn độc

với vầng trăng chếnh choáng

trên yên ngựa mỏi mòn ”

Tác giả dùng hình ảnh tiếng đàn với bọt nước gợi cho ta cảm giác tiếng nhạc rất mỏng manh và nhẹ nhàng du dương, lúc tồn tại khi tan biến. Người anh hùng áo choàng “đỏ gắt” màu sắc chói chang của những kỵ sĩ đấu bò tót – một hình ảnh biểu trưng dân tộc tác giả khéo léo lồng ghép vào, người đọc có thể liên tưởng tới một người anh hùng dũng cảm, yêu tự do, sẵn sàng đối đầu với những hiểm nguy phía trước, một cuộc chiến không cân sức giữa một con người nhỏ bé và những con bò hung hãn, phía trên khán đài là những tiếng hò reo cổ vũ vang dội.
Thế nhưng không Lor-ca chẳng phải là một kỵ sĩ đấu bò tót một mình một gươm, một giáo chế ngự chúng, mà ông phải chiến đấu đơn độc với cả một chế độ độc tài chính trị phát xít Phơ – răng – cô. Hình ảnh siêu thực “vầng trăng chếnh choáng” , một vẻ đẹp thiên nhiên nhẹ nhàng được tác giả kết hợp với từ láy “chếnh choáng” tạo cho ta cảm giác chơi vơi, lạc lõng.
Có phải chăng người anh hùng đang cảm thấy mất phương hướng, cô đơn và mệt mỏi trên chặng đường của mình, “yên ngựa mỏi mòn” cần được nghỉ ngơi, cần được có thêm những người bạn đồng hành trên hành trình đấu tranh giành công lý. Xen giữa những câu thơ Thanh Thảo có đưa vào một câu hát “li-la li-la li-la” tiếng nhạc cất lên giữa hành trình thật êm ái, xoa dịu đi sự trống trải, mệt mỏi ,cho dù đó có là một “miền đơn độc” thì Lor-ca vẫn không hề tỏ ra lúng túng hay chùn bước, ông đi theo lý tưởng khát khao của trái tim mình.
Ở khổ thơ này, tác giả dùng nhiều từ láy “lang thang”, “chếnh choáng”, “đơn độc”, “mỏi mòn” nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm, đó là khung cảnh bao chùm bởi sự u ám, bế tắc, mệt mỏi khiến cho người đọc thấy được cái vẻ đẹp của người nghệ sĩ đa tài trước một hoàn cảnh khắc nghiệt như thế nhưng ông vẫn hiên ngang, không hề từ bỏ, vẫn dấn thân hy sinh vì nhân dân, vì sự tự do của dân tộc.Tiếp nối những câu thơ phóng khoáng tự do, Thanh Thảo đã đưa người đọc đến cảm xúc bàng hoàng, đau xót ở khổ thứ hai và ba của bài thơ:

“ Tây Ban Nha

hát nghêu ngao

bỗng kinh hoàng

áo choàng bê bết đỏ

Lor-ca bị điệu về bãi bắn

chàng đi như người mộng du

tiếng ghi-ta nâu

bầu trời cô gái ấytiếng ghi-ta lá xanh biết mấy

tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan

tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy ”

Tiếc thương thay, một chàng trai đang ôm ấp bao lý tưởng hoài bão phải chấp nhận cái chết oan ức đau đớn bi kịch. Bị điệu về nơi pháp trường chàng bước đi vô định như “người mộng du” không phải vì sợ hãi trước cái chết mà là cả sự bất lực trong tâm hồn, chàng thấy tiếc nuối cho cuộc đời mình, cho những lý tưởng cao cả chưa hoàn thành xong.
Người anh hùng “hát nghêu ngao” ngày nào bỗng chốc bị sát hại, màu đỏ của áo choàng nay đã nhuốm thêm đỏ bằng máu của người nghệ sĩ bạc mệnh Lor-ca, đó là một cái chết thương tâm, phản ánh tố cáo tội ác tàn bạo của thế lực độc tài phát xít thuở bấy giờ. Hình ảnh tiếng đàn lại một lần nữa xuất hiện, lần này dồn dập hơn, da diết cao trào xoáy sâu vào nội tâm nhân vật.
Điểm mới trong phong cách Thanh Thảo, ông không miêu tả tiếng đàn hay tuyệt hảo, tiếng đàn ấm áp trầm bổng mà lại dùng một tính từ chỉ màu sắc để gợi tả nó đó là màu “nâu”. Một màu sắc gam trầm, không chói loá cũng không lạnh lẽo u sầu, đây là màu của đất, của thân gỗ cổ thụ, gợi cho ta cảm nhận tiếng đàn rất mộc mạc, chân thành, có chút gợn buồn, tiếng đàn cũng là tiếng lòng người nhạc sĩ.
Tác giả lần lượt đưa người đọc qua mọi cung bậc cảm xúc về vẻ đẹp, tình yêu, về khát khao hy vọng, về nỗi đau trước cái chết. Nghệ thuật điệp cụm từ “tiếng ghi ta” tăng sức biểu cảm, gây ấn tượng sâu sắc, ám ảnh, day dứt khôn nguôi trong lòng người đọc. Hình ảnh “ròng ròng máu chảy”, sau khi bị chúng đưa ra bãi bắn chỉ trong tích tắc phút giây kinh hoàng đã ập đến, Lorca nằm xuống, tiếng ghi ta cũng đau xót như chính mình đã chết đi. Đây không phải là một hình ảnh nhân hoá đơn thuần, tiếng đàn được ví như con người có linh hồn, có trái tim, là người bạn tri kỷ đau xót trước sự ra đi của người nghệ sĩ đa tài.
Tiếng đàn ghi ta “nâu” ngày nào giờ đã hoá màu bạc chở linh hồn Lor-ca bơi sang sông tìm sự giải thoát. Ở những khổ thơ cuối tiếng đàn vẫn vang lên thánh thót mang theo niềm tin vào sự bất tử:

“ không ai chôn cất tiếng đàn

tiếng đàn như cỏ mọc hoang

giọt nước mắt vầng trăng

long lanh trong đáy giếng

đường chỉ tay đã đứt

dòng sông rộng vô cùng

Lorca bơi sang ngang

trên chiếc ghi ta màu bạc

chàng ném lá bùa cô gái Di-gan

vào xoáy nước

chàng ném trái tim mình

vào lặng yên bất chợt

li-la li-la li-la…”

Tiếng đàn vô hình làm sao có thể “chôn cất” ? Nhưng đối với Thanh Thảo tiếng đàn là một vật thể có linh hồn, nó bơ vơ, lạc lõng, lang thang khắp chốn, trở nên hoang dại như ngọn cỏ khi mất đi người bạn tri kỷ của đời mình. Cái chết của Lor-ca đã làm trời đất phải đau xót tiễn đưa, tác giả một lần nữa sáng tạo ra hình ảnh trừu tượng “giọt nước mắt vầng trăng”, trăng biểu tượng cho vẻ đẹp dịu dàng của thiên nhiên, nó là nguồn cảm hứng vô tận cho biết bao thế hệ nhà thơ, nhà văn.
Thanh Thảo ví vầng trăng như có cảm xúc biết đau xót, rơi những giọt nước mắt dưới nơi đáy giếng, dường như sự ra đi oan ức của Lor-ca đã khiến cho thiên nhiên, trời đất phải rung động, nghẹn ngào tiễn đưa ông về cõi vĩnh hằng. Giờ đây, người nghệ sĩ có lẽ đã quá mệt mỏi, ông chấp nhận hiện thực số phận nghiệp ngã của mình, “đường chỉ tay đã đứt” ông bỏ lại tất cả để “bơi sang ngang” với người bạn tri kỷ đời mình, lòng sông rộng lắm nhưng không ngăn được sự can đảm, dứt khoát của Lor-ca, bởi vì giờ đây ông đã có người đồng hành bên cạnh.
Ông bỏ lại tình yêu với cô gái Di- gan xinh đẹp, dịu dàng, “ném lá bùa” không phải là tuyệt tình, lạnh lẽo mà là chàng thật sự bất lực, muốn để trái tim được lặng yên, được ra đi thanh thản với tâm hồn không lưu vết bụi trần. Thanh Thảo dùng động từ “ném” để tăng thêm sức biểu cảm, là hành động mạnh mẽ, dứt khoát, không chút do dự. Nhưng câu hát thánh thót vang lên lần cuối “li-la li-la li-la…” đầy tiếc nuối, đầy khắc khoải như kết thúc một câu chuyện buồn về số phận của người nghệ sĩ tài hoa bạc mệnh.
Đàn ghita của Lor-ca là bài thơ giàu hình ảnh sáng tạo, mang chất nhạc bay bổng lãng mạn. Tuy viết theo lối tự do, khoáng đạt nhưng bài thơ vẫn có nét rất đặc sắc giữa vần và nhịp, tác giả dùng nhiều biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, từ láy, động từ mạnh,… để làm tăng thêm nét biểu cảm, hình ảnh người anh hùng Lor-ca được khắc hoạ đậm nét trong lòng mỗi độc giả.
Tác phẩm đã góp phần lên án, tố cáo sự tàn bạo của chúng dưới nền chính trị độc tài phát xít, đẩy nhân dân vào hoàn cảnh lầm than bế tắc, đưa đất nước bao chùm trong u tối, ngột ngạt, đau thương tột cùng. Đồng thời ca ngợi lòng yêu tự do, yêu dân tộc, ý chí kiên cường không khuất phục trước thế lực tàn ác, dám đứng lên đấu tranh, giành quyền tự do cho nhân dân, tự chủ cho dân tộc.
Nhà thơ Thanh Thảo đã viết lên bài thơ Đàn ghita của Lor-ca bằng tất cả tấm lòng, cảm xúc chân thành của mình, tiễn đưa người anh hùng về miền cực lạc. Qua bài thơ người đọc cảm nhận được sự nỗ lực, sáng tạo bất tận của tác giả, ông đã đặt hết tâm huyết sự khát khao của mình với mong muốn góp phần cải tạo tiếng Việt thêm phần giàu đẹp, phong phú và đa dạng hơn.

Phân tích tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 6

Đàn ghita của Lor-ca – Mẫu 6

Thanh Thảo đã từng viết rằng:

 ” Tôi hay nghĩ điều chưa thành
Những màu sắc lạ thoáng nhanh qua đầu
Tôi hay xâu chuỗi vào nhau
Những chữ rời rạc như xâu hạt cườm
Có khi dùng sợi chỉ thường
Có khi là một chuỗi cườm không dây “

Đoạn thơ viết lên, không chỉ đơn thuần là công việc tỉ mẩn xâu chuỗi hạt cườm mà hơn hết nó còn là công cuộc lao động trí óc, tìm tòi và cách tân thơ ca. Cả cuộc đời Thanh Thảo là những bước trải nghiệm, thử, tìm, khám phá để cho ra đời những hình thức, nội dung nghệ thuật mới mẻ. Có thể coi tác phẩm Đàn ghita của Lor-ca là mốc đánh dấu cách tân thành công đầu tiên của ông.
Có thể thấy rằng Đàn ghita của Lor-ca là một bài thơ giàu nhạc tính nhất. Để tạo nên những âm thanh, tính nhạc trong tác phẩm của mình Thanh Thảo đã vận dụng, phối hợp rất nhiều yếu tố khác nhau: trùng điệp, thể thơ, nhịp điệu,… Chính cái nhịp điệu này là yếu tố đã góp phần tạo nên cái hay, cái mới mẻ, hấp dẫn cho toàn bộ bài thơ.
Trước hết, khi lựa chọn thể thơ, Thanh Thảo đã lựa chọn thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau giúp ông thỏa sức thể hiện những cung bậc tình cảm, cảm xúc của bản thân. Có thể để cho trí tưởng tượng của mình vươn cao, vươn xa hơn.
Bài thơ mở đầu bằng tiếng đàn đầy ngân nga, tha thiết:

” những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la “

Đồng thời để chuỗi âm thanh đó ngân mãi, vang mãi kết lại bài thơ, âm thanh li-la li-la li-la, cũng là âm thanh khép lại bài thơ. Dù câu chữ đã khép lại, nhưng âm điệu, ý nghĩa của nó vẫn còn vang vọng mãi trong lòng bạn đọc.
Không chỉ vậy, tính nhạc của bài thơ còn được thể hiện trong hình thức trùng điệp của cấu trúc câu:

” tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy “

Tiếng ghi ta lặp đi lặp lại xoáy vào tâm can người đọc, trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi. Tiếng ghi ta nâu, là nâu của đất hay chính là màu sắc của chúng; tiếng ghi ta lá xanh là biểu tượng của xuân thì tươi sắc, hãy là những âm thanh rộn vang của cuộc song; rồi lại đến tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Câu thơ ấy có thể hiểu tiếng ghi-ta mong manh như chính số phận của người nghệ sĩ. Dù nó mang trong mình cái vẹn nguyên, tròn đầy nhưng lại bị các thế lực chà đạp, hủy diệt, vùi dập. Tiếng ghi ta cũng chính là biểu tượng cho số phận người nghệ sĩ bất hạnh phải sống dưới chế độ độc tài tàn ác. Những câu thơ dài ngắn khác nhau, khi dãn cách, khi dồn dập, đặc biệt là câu thơ cuối cùng chỉ còn lại hai chữ “máu chảy” cho thấy số phận bị kịch và bất hạnh đến tột cùng của người nghệ sĩ.
Đồng thời Thanh thảo cũng rất khéo léo khi sử dụng âm thanh đầy tính tượng thanh “li-la li-la li-la” đề từ đó gợi nên âm hưởng réo rắt vang vọng trong toàn bộ bài thơ. Nếu như âm thanh đó mở đầu bài thơ kể về cuộc đời đầy tài hoa và bạc mệnh của người nghệ sĩ Lor-ca thì kết thúc bài thơ âm vang đó vẫn vang vọng, để người ta không thôi khắc khoải về người nghệ sĩ đó, để từ đó rút ra những bài học chân chính về nghệ thuật, về cuộc đời. Có thể thấy chất nhạc trong tác phẩm này được sử dụng hết sức thành công vừa diễn tả, ngợi ca được người nghệ sĩ với cây đàn – người bạn của mình, đồng thời còn tạo ra những dư âm vang vọng lòng người.
Không chỉ là một bài thơ giàu tính nhạc, mà tác phẩm còn giàu chất tạo hình, với những hình ảnh giàu tính biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh tiếng đàn. Tiếng ghi ta được Thanh Thảo ghi lại dưới nhiều hình ảnh, dạng thức khác nhau: là Tiếng ghi ta nâu- bầu trời cô gái ấy khi nó tấu lên khúc ca về tình yêu của Lor-ca dành cho quê hương, nghệ thuật, con người, lí tưởng…; Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy tràn đầy niềm tin và hi vọng cách tân nghệ thuật; nhưng tiếng ghi ta cũng đầy đau đớn, phẫn uất: Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan/ Tiếng ghi ta ròng ròng- máu chảy. Đến đây tiếng ghi ta đã bị đẩy đến cao trào của sự bi phẫn đau thương. Cả cuộc đời người nghệ sĩ Lor-ca hi sinh cho thứ nghệ thuật chân chính, trác tuyệt. Và đến cuối đời ông cùng thứ nghệ thuật cáo cả đẹp đẽ của mình đã bị chế độ độc tài tiêu diệt không chút xót thương. Tiếng đàn là biểu tượng, là cuộc đời nghệ thuật đầy bi tráng của Lor-ca.
Bên cạnh đó cũng có một số hình ảnh biểu tượng đáng chú ý khác như: “giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng”. Hình ảnh vừa thực lại vừa có chút gì đó huyền ảo. Khi Lor-ca bị xử bắn, phe phát xít đã quăng ông xuống giếng. Nhưng đồng thời cũng gợi cho chúng ta liên tưởng dường như thứ nghệ thuật ông để lại (ánh trăng) sẽ mãi mãi không mất đi mà long lanh tỏa rạng.
Xem thêm tại >>> https://tomtat.net/category/tom-tat-van-hoc/

%d bloggers like this: